Các Nhà Tù Chính Trị Ít Người Biết Đến Tại Việt Nam

Mục lục

Khi nhắc đến nhà tù chính trị thời thuộc địa và chiến tranh, người ta thường nghĩ ngay đến Hỏa Lò hay Côn Đảo. Nhưng rải rác khắp dải đất hình chữ S, còn nhiều “địa chỉ đỏ” khác nằm sâu trong rừng già, trên núi cao, dưới lòng đất. Nơi hàng trăm chiến sĩ cách mạng và người yêu nước từng bị giam cầm, đày ải.

Đây là 4 nơi ít được nhắc đến nhưng mang trong mình những câu chuyện không thể lãng quên, cùng Nét Việt Nam tìm hiểu nhé.

Các nhà tù chính trị ít người biết đến tại Việt Nam

Căng Bắc Mê (Hà Giang): Nhà Tù Giữa Rừng Thiêng Nước Độc

Giữa núi rừng trùng điệp thượng nguồn sông Gâm, thuộc xã Yên Cường, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, thực dân Pháp đã cho xây dựng Căng Bắc Mê từ cuối những năm 1930. Ban đầu là đồn binh nhằm kiểm soát tuyến giao thông nối ba tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang. Đến năm 1939, khi phong trào cách mạng trong nước phát triển mạnh, nơi này bị biến thành nhà tù giam giữ tù chính trị được áp giải từ Hỏa Lò, Sơn La, Phú Thọ lên.

Ba bề là núi đá dựng đứng, phía trước là sông Gâm cuồn cuộn. Đây là địa thế hiểm trở khiến Căng Bắc Mê gần như biệt lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Quần thể Căng Bắc Mê rộng 2.500m2 gồm: Trại giam, nhà Bang Tá, Kho Muối, bốt gác, nhà thông tin, nhà làm việc và nhiều hạng mục phụ trợ cùng hệ thống tường thành cao 2m, cách 10m là một lỗ châu mai.

Ngoài ra, thực dân Pháp còn cho xây dựng một sân bay trực thăng để phục vụ cơ động và hành quân. Căng Bắc Mê khống chế cả một vùng rộng lớn để khi có biến sẽ thuận lợi di chuyển tù nhân sang nơi khác.

Các chiến sĩ Cộng sản bị đưa đến đây đều bị bắt lao động khổ sai: đóng gạch, nung vôi, xây bốt gác giữa cái nóng ẩm, muỗi, vắt rừng sâu. Có thời kỳ tại đây giam giữ lúc đông nhất lên đến khoảng 300 tù nhân chính trị. Trong đó có các chiến sĩ cách mạng, đảng viên của Đảng Cộng Sản Đông Dương.

Nhưng chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, những người tù cộng sản vẫn kiên trì gây dựng chi bộ Đảng, dạy chữ, truyền lửa yêu nước cho nhau và cho cả đồng bào quanh vùng. Cuối năm 1942, trước sức ép của phong trào đấu tranh, thực dân Pháp buộc phải chuyển tù nhân đi nơi khác. Năm 1992, Căng Bắc Mê được công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia.

image 15

Nhà Tù Kon Tum: Khúc Tráng Ca Đẫm Máu Trên Đường 14

Được xây dựng từ đầu thế kỷ 20 theo kiểu pháo đài biệt lập bên bờ sông Đăk Bla, Ngục Kon Tum hay còn được gọi là Nhà đày Kon Tum đã trở thành nơi giam giữ tù chính trị từ năm 1930, sau khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp.

Thực dân Pháp đưa hàng trăm tù nhân từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế lên đây, vừa để cách ly họ khỏi phong trào quần chúng, vừa để khai thác sức lao động khổ sai mở tuyến đường 14 nối Tây Nguyên với đồng bằng. Đồng thời, lợi dụng sự khắc nghiệt của vùng rừng thiêng nước độc nơi đây để làm suy yếu ý chí chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng.

Ở Ngục Kon Tum, theo ký sự Ngục Kon Tum của nhà cách mạng Lê Văn Hiến, mỗi lao có bốn dãy cùm, tù nhân ngày đêm bị cùm chân, chịu đòn roi, đói khát và bệnh tật triền miên. Cơm ăn trong nhà tù là thứ cơm trộn trấu, mắm có giòi, nước uống là nước khe, nước bùn. Tàn bạo hơn, cai tù hành hạ, giết người không gớm tay, bằng đủ cách, “giết được chừng nào hay chừng ấy, đó là lệnh bí mật của bọn thực dân đối với chính trị phạm”. Mọi thủ đoạn dã man mà thực dân và tay sai dùng đều nhằm thực hiện cho được mật lệnh trên.

Tù chính trị bị giam giữ ở Ngục Kon Tum là nguồn nhân công chính làm đường 14, đoạn Đăk Pao, Đăk Pék. Đoạn đường từ Đăk Pao đến Đăk Pék nằm giữa vùng rừng núi Trường Sơn hiểm trở, đèo cao, suối sâu, gần sông Pô Kô ẩm ướt, khí hậu khắc nghiệt, xa khu dân cư. Trong những ngày làm đường 14, tù chính trị phải chịu chính sách đàn áp dã man của thực dân Pháp.

Đây là một trong những trang sử bi thương nhất: chỉ trong 6 tháng thi công đường 14 (từ cuối 1930 đến giữa 1931), gần 300 tù nhân bị đưa đi làm đường thì ngày về chỉ còn 80 người sống sót; hơn 200 người đã nằm lại vĩnh viễn giữa rừng sâu, anh linh hòa vào núi thẳm vì kiệt sức, bệnh tật và sự tàn bạo của cai ngục.

Đỉnh điểm là cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931, khi tù chính trị tuyệt thực phản đối bị đưa đi làm đường, thực dân Pháp đã nổ súng thẳng vào đoàn người, khiến nhiều chiến sĩ hy sinh ngay tại chỗ. Máu đã đổ, nhưng tinh thần đấu tranh ấy buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ, cải thiện chế độ giam giữ. Ngục Kon Tum được công nhận Di tích Lịch sử cấp quốc gia năm 1988, và tập thể chiến sĩ cách mạng từng bị giam giữ nơi đây đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

image 16

Nhà Tù Chín Hầm (Huế): Chốn Âm Ty Dưới Lòng Đất Mẹ

Khác với hai nơi trên, Chín Hầm không phải “sản phẩm” của thực dân Pháp mà ra đời sau đó ở dưới chân núi Thiên Thai, cách trung tâm Huế khoảng 6km. Các hầm này vốn được quân Pháp xây từ năm 1941 để cất giữ vũ khí. Nhưng từ năm 1954, Ngô Đình Cẩn – em trai Tổng thống Ngô Đình Diệm, người nắm quyền lực gần như tuyệt đối ở miền Trung thời bấy giờ đã biến nơi này thành những chuồng cọp biệt giam những người cộng sản và cả những người dân Huế dám đứng lên phản đối chế độ gia đình trị họ Ngô.

Khu Chín Hầm nằm trên một ngọn đồi thông xa dân cư. Diện tích toàn bộ khu vực nhà giam là 4ha. Nhà tù Chín Hầm gồm có tất cả 9 căn hầm, mỗi hầm có chiều dài khoảng 10m, bề ngang khoảng 6m, độ cao khoảng 4m được ngăn thành 2 dãy xà lim chuồng cọp ở 2 bên, mỗi bên có khoảng 10 “chuồng”.

Mỗi chuồng cọp dài khoảng 2m, rộng độ 9 tấc, chiều cao 2m, phía trên các chuồng cọp được gia cố bằng 16 thanh sắt ngang và 2 thanh sắt dọc. Căn hầm lớn nhất có diện tích 85m2, căn nhỏ nhất 41m2. Ngô Đình Cẩn cho sửa lại các căn hầm này làm trại giam.

Cấu trúc bề ngoài căn hầm không thay đổi, chỉ gia cố lại cửa thép, lưới sắt nắp hầm. Trừ hầm số 5, các hầm khác ngăn thành xà lim nhỏ. Theo lời kể của các nhân chứng, các căn hầm này khi trời mưa, nước ngập đến thắt lưng; ngày nắng, nóng hầm hập như trong lò than; trời rét, lạnh cắt da cắt thịt. Người bị giam sống chung với chuột, dòi, muỗi mòng…

Có thể gọi nhà giam Chín Hầm là hầm xay thịt vì có hàng trăm sinh mệnh đã bị bức tử trong đó. Mỗi hầm có một chức năng riêng, tùy vào thành phần phạm tội khác nhau mà bị giam giữ ở các hầm khác nhau. Các căn hầm số 1, số 6, số 7, số 8 giam giữ những tù nhân chúng gọi là cộng sản, Việt cộng nằm vùng. Hầm số 8 là căn hầm điển hình nhất của “địa ngục trần gian”.

Căn số 2 giam cầm những công thương gia giàu có; chúng vu oan cho họ, bắt giữ tra tấn, buộc gia đình phải bỏ tiền, vàng để chuộc thân.

Căn số 3, 4 nhốt những người đối lập, những quan chức sĩ quan của chính quyền đương nhiệm không tuân theo lệnh Ngô Đình Cẩn.

Căn số 5 giam giữ các tăng ni, phật tử, học sinh sinh viên phản kháng chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô. Căn này không ngăn thành xà lim, có thời điểm, chúng dồn hàng trăm người vào đây, đến nỗi họ chỉ có thể đứng sắp lớp với nhau. Vì thế, nhiều người đã chết vì ngộp thở.

Căn số 9 là bốt gác đồng thời cũng là nơi tra tấn, khảo cung những người chúng cho là có tội.

Tù nhân bị tra tấn bằng những hình thức tàn khốc, và không ít người đã vĩnh viễn nằm lại nơi rừng núi này. Sau cuộc đảo chính năm 1963 lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, người dân Huế đã kéo lên đập phá Chín Hầm để giải cứu những người còn sống sót bên trong. Năm 1993, khu di tích được công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia, ghi dấu tội ác của một giai đoạn lịch sử đau thương.

image 17

Nhà Tù Đắk Glei (Kon Tum): Nơi Lưu Đày Chốn Thâm Sơn

Được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1932, Ngục Đắk Glei nằm sâu trong vùng núi Tây Nguyên. Ban đầu đây là nơi dùng để giam giữ người dân phản kháng chính sách cai trị. Tuy nhiên, từ sau năm 1939, chúng biến nơi đây thành “Căng an trí” để cách ly và đày ải những chiến sĩ cộng sản kiên trung nhất.

Đã có thời kỳ từng giam giữ hơn 100 tù chính trị suốt hơn hai thập niên kháng chiến. Cũng giống Ngục Kon Tum, đây là một mắt xích trong hệ thống lao dịch khổ sai mở đường 14 xuyên Tây Nguyên – nơi tù nhân phải vác đá, mở đường dưới làn roi vọt của lính canh, giữa núi rừng hoang vu gần như cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Ngục Đắk Glei còn được biết đến với cái tên thân thuộc “Ngục Tố Hữu” gắn với nhà thơ Tố Hữu, người từng bị giam giữ nơi đây và để lại những vần thơ về những năm tháng lưu đày. Và cũng là để ghi nhớ cuộc vượt ngục thành công đầy táo bạo của ông cùng đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ. Nhìn từ ngục xuống là thung lũng Đắk Choong với những cánh rừng xà nu bạt ngàn.

Khung cảnh được cho là nguồn cảm hứng cho thiên truyện “Rừng xà nu” nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Ngày nay, Ngục Đắk Glei là Di tích Lịch sử cấp quốc gia, nơi phục dựng lại những mảng ký ức về một thời kỳ đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ cách mạng Tây Nguyên.

image 18

Vì sao những nhà tù chính trị này cần được biết đến nhiều hơn?

Không hào nhoáng như những di tích lớn, 4 nhà tù trên nằm ở những vùng xa xôi, ít được truyền thông nhắc tới. Nhưng chính vì vậy, chúng lại là những chứng tích chân thực nhất về một giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt, nơi ý chí con người được thử thách đến tận cùng. Tìm hiểu về những “địa chỉ đỏ” này không chỉ là học sử, mà còn là cách để thế hệ hôm nay trân trọng hơn giá trị của hòa bình.

Tin Tức Liên quan